Tìm kiếm nhanh:

Chính sách BHXH 2025: Bước tiến mới trong an sinh xã hội - chìa khóa bảo vệ quyền lợi người lao động

Ngày đăng: 27-08-2025

 

Từ ngày 01/07/2025, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 và Nghị định 158/2025/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nỗ lực hoàn thiện chính sách an sinh xã hội của Việt Nam. Những văn bản pháp lý này không chỉ củng cố và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động mà còn tạo ra một hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch hơn cho mọi doanh nghiệp.

1. Mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

Nghị định đã mở rộng phạm vi tham gia BHXH bắt buộc, thể hiện tầm nhìn toàn diện hơn của Nhà nước trong việc bảo vệ an sinh xã hội cho nhiều nhóm đối tượng.

Cụ thể, các nhóm lao động sau đây được bổ sung vào diện tham gia BHXH bắt buộc: Chủ hộ kinh doanh cá thể (nộp thuế theo phương pháp kê khai), Người quản lý doanh nghiệp không hưởng tiền lương. Sự thay đổi này không chỉ gia tăng số lượng người được hưởng các chế độ an sinh xã hội mà còn đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các nhóm lao động trong nền kinh tế.

Các nhóm lao động được bổ sung vào diện tham gia BHXH bắt buộc theo quy định tại Khoản 2, Điều 2 của Luật BHXH năm 2024 và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 158/2025/NĐ-CP bao gồm:

a)     Chủ hộ kinh doanh cá thể (nộp thuế theo phương pháp kê khai)

Cụ thể mức đóng BHXH bắt buộc đối với chủ hộ KD 25% trên tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH ( đóng hàng tháng, 3 tháng hoặc 6 tháng một lần tùy theo nhu cầu). Tiền lương tháng làm căn cứ đóng của nhóm này được xác định bằng mức lương cơ sở (hiện là 2.340.000 VNĐ - do đó mức đóng BHXH thấp nhất của chủ hộ KD là 25% x 2.340.00 = 585.000 đồng/tháng).

b)      Người quản lý doanh nghiệp không hưởng tiền lương

Nhóm này đóng BHXH bắt buộc với mức đóng hàng tháng là 25% trên tiền lương tháng làm căn cứ đóng. Tiền lương tháng làm căn cứ đóng sẽ do người quản lý và doanh nghiệp tự thỏa thuận, không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do CP quy định.

 

2. Quy định về mức đóng Bảo Hiểm

Tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc của người lao động bao gồm:

-     Mức lương: Mức lương theo công việc hoặc chức danh.

-    Phụ cấp lương: Các khoản phụ cấp để bù đắp các yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương thỏa thuận trong hợp đồng chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ.

-    Các khoản bổ sung khác: Các khoản bổ sung xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương.

Lưu ý quan trọng:

-   Các khoản không dùng để tính đóng BHXH: Một số khoản thu nhập không được tính để đóng BHXH, bao gồm: tiền thưởng, tiền ăn ca, hỗ trợ đi lại, điện thoại, nhà ở, nuôi con nhỏ, và các khoản hỗ trợ khác.

-    Tỷ lệ đóng: Tổng tỷ lệ đóng BHXH, BHYT, BHTN của người lao động và người sử dụng lao động hiện nay là 32% trên tiền lương tháng làm căn cứ đóng.

Trong đó:

·      Người sử dụng lao động đóng: 21.5% (Cụ thể: 17% BHXH, 3% BHYT, 0.5% BH TNLĐ-BNN ,1% BHTN)

·      Người lao động đóng: 10.5% (Cụ thể: 8% BHXH, 1,5% BHYT, 1% BHTN)

 

3. Chế độ Bảo Hiểm Thất Nghiệp

Nghị định 158/2025/NĐ-CP , hướng dẫn Luật BHXH 2024, đã quy định về chế độ BHTN, giúp người lao động có nguồn hỗ trợ tài chính để ổn định cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình tái hòa nhập thị trường lao động.

a)       Người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu đáp ứng đủ điều kiện sau:

Thời gian đóng BHTN: Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.

Thời gian nộp hồ sơ: Nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm trong vòng 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động.

      b)     Mức hưởng và thời gian hưởng:

- Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp (Mức tối đa: Mức hưởng tối đa không quá 05 lần mức tham chiếu (hiện là 2.340.000 VNĐ)).

- Thời gian hưởng được tính như sau: Đóng BHTN đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng được hưởng 03 tháng trợ cấp; Cứ đóng thêm đủ 12 tháng , người lao động sẽ được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp, nhưng thời gian hưởng tối đa không quá 12 tháng .

 

4. Nâng cao trách nhiệm của người sử dụng lao động

Để giải quyết tình trạng trốn đóng, chậm đóng BHXH, Nghị định đã bổ sung quy định về việc tính lãi chậm đóng BHXH được điều chỉnh để áp dụng sớm hơn, tạo áp lực lớn hơn đối với người sử dụng lao động, xử phạt hành chính đối với hành vi chậm đóng, trốn đóng BHXH; công khai thông tin các doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng trên các phương tiện truyền thông đại chúng; xử lý hình sự đối với các trường hợp trốn đóng BHXH với số tiền lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người lao động, người sử dụng lao động.

                                                                        Chuyên viên PL Huyền Trang