Mục
4 của Nghị quyết quy định:
"Kể
từ ngày Bộ luật tố tụng dân sự được công bố cho đến ngày có hiệu lực:
A.
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết
định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động đã có hiệu lực pháp luật
trước ngày Bộ luật tố tụng dân sự được công bố thì áp dụng theo quy định tương
ứng tại Điều 73 và Điều 79 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự,
Điều 77 và Điều 83 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Điều 75
của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động;
B.
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết
định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động có hiệu lực pháp luật sau
ngày Bộ luật tố tụng dân sự được công bố thì áp dụng theo quy định tại Điều 288
và Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Để
thi hành đúng quy định tại mục 4 nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao lưu ý một số
điểm như sau:
1.
Về việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết
định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động đã có hiệu lực pháp luật
trước 0 giờ 00 ngày 24/6/2004 (ngày Bộ luật tố tụng dân sự được công bố).
2.
Về việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án,, quyết
định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động có hiệu lực pháp luật sau
0 giờ 00 ngày 24/6/2004.
3.
Về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm