Tìm kiếm nhanh:

Hiệu lực của hợp đồng điện tử

Ngày đăng: 01-08-2017
  1. Giải thích

Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử.

Hợp  đồng  điện  tử  được  hiểu  là  hợp  đồng  được  hình  thành  thông  qua  việc sử dụng thông điệp dữ liệu (Điều 11, mục 1, Luật mẫu về Thương mại điện tử UNCITRAL năm 1996).

Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập  dưới  dạng  thông  điệp  dữ  liệu  theo quy  định  của Luật này (Luật  giao  dịch  điện  tử  của  Việt  Nam  2005).

Các điểm khác biệt của Hợp đồng điện tử:

Ngoài hai bên chủ thể, người mua và người bán thì trong hợp đồng điện tử còn có một chủ thể cũng không kém phần quan trọng là các nhà cung cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực chữ ký điện tử.

Trong nội dung hợp đồng, ngoài các địa chỉ pháp lý thông thường hợp đồng điện tử còn có địa chỉ e-mail, địa chỉ website, địa chỉ xác định nơi và ngày giờ gửi fax.

Đặc biệt, các bên sẽ không mất thời gian gặp gỡ trao đổi và ký tay mà thực hiện giao kết trên các phương tiện điện tử và hợp đồng sẽ được ký bằng chữ ký điện tử.

Ngoài ra quy trình và thủ tục giao kết của Hợp đồng diện tử cũng khác so với Hợp đồng truyền thông nhưng tiết kiếm được thời gian, nhanh chóng hơn.

  1. Các văn bản pháp luật liên quan

Luật mẫu về Thương mại điện tử UNCITRAL năm 1996;

Bộ luật Dân sự 2015;

Luật Thương mại 2005;

Luật Giao dịch điện tử 2005;

Nghị định số 52/2013/NĐ-CP Về Thương mại điện tử.

  1. Hiệu lực của hợp đồng điện tử

Hiện nay, Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành cũng không quy định nào về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng điện tử. Nhưng theo những quy định tại của Bộ luật dân sự 2015 thì: “Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản” (Khoản 1 Điều 119) và Luật thương mại 2005: “Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản” (Điều 15). Cho thấy, hiệu lực của hợp đồng điên tử vẫn được xét theo hiệu lực của hợp đồng bằng văn bản thông thường nếu thoả mãn các điều kiện của việc tạo lập thông tin, gửi, nhận và lưu trữ thông tin bằng phương tiện điện tử.

Như vậy, hiệu lực của hợp đồng điện tử phụ thuộc vào những điều kiện sau:

  • Điều kiện để công nhận hợp đồng điện tử có giá trị pháp lí như bản gốc:

Thứ nhất, nội dung của hợp đồng điện tử được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng thông điệp hoàn chỉnh. Nghĩa là thông điệp đó trong hợp đồng điện tử chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu.

Thứ hai, nội dung của thông điệp dữ liệu trong hợp đồng điện tử có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết nghĩa là thông điệp dữ liệu có thể mở được, đọc được, xem được bằng phương pháp mã hoá hợp pháp đảm bảo độ tin cậy mà các bên quy ước/thoả thuận với nhau.

  • Điều kiện để hợp đồng có hiệu lực theo quy định của pháp luật:

Thứ nhất, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hợp pháp. Thông thường các bên giao kết phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

Thứ hai, các chủ thể ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện tức là xuất phát từ ý chí thực, từ sự tự do ý chí của các bên trong các thỏa thuận hợp đồng đó. Sự ép buộc, giả dối sẽ làm vô hiệu hợp đồng khi ký kết.

Thứ ba, nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đối tượng của hợp đồng không thuộc hàng hóa cấm giao dịch, công việc cấm thực hiện. Bên cạnh đó, nội dung của hợp đồng cần phải cụ thể, bởi vì việc xác lập nghĩa vụ trong hợp đồng phải cụ thể và có tính khả thi. Những nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thể thực hiện được thì hợp đồng cũng không được coi là có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ.

Thứ tư, thủ tục và hình thức của hợp đồng phải tuân theo những thể thức nhất định phù hợp với những quy định của pháp luật đối với từng loại hợp đồng.