Phòng vệ chính đáng
Ngày đăng: 13-03-2013
Để được công nhận là phòng vệ chính đáng, người phòng vệ phải thỏa mãn những điều kiện nhất định, đó là những điều kiện về cơ sở phát sinh quyền phòng vệ và nội dung, phạm vi của quyền phòng vệ và làm cơ sở để phân biệt với trường hợp không được thừa nhận là phòng vệ chính đáng và trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, cụ thể:
1. Điều kiện thứ nhất: có hành vi xâm hại vào lợi ích của nhà nước, của tổ chức, quyền và các lợi ích hợp pháp của công dân.
Đây là điều kiện thể hiện cơ sở phát sinh quyền phòng vệ. Chế định phòng vệ chính đáng cho phép và khuyến khích công dân, khi có điều kiện, tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của nhà nước.Tuy nhiên, quyền phòng vệ chỉ phát sinh khi hành vi xâm hại những lợi ích hợp pháp cần bảo vệ phải là hành vi rõ ràng có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội.
Quyền phòng vệ đối với những hành vi xâm hại những lợi ích hợp pháp cần bảo vệ theo quy định pháp luật không phân biệt hành vi xâm hại có phải là tội phạm hay không phải là tội phạm, mà sự xâm hại đó là hợp pháp hay không hợp pháp, VD: trường hợp hành vi nguy hiểm cho xã hội do người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc người không đủ năng lực trách nhiệm hình sự (người bị bệnh tâm thần) thực hiện, mặc dù không phải là tội phạm và thậm chí không có lỗi nhưng không vì thế mà không phát sinh quyền phòng vệ.
Hành động phòng vệ chính đáng được thực hiện khi không thể áp dụng các biện pháp cần thiết khác để đẩy lùi hành vi xâm hại, bảo vệ có hiệu quả các lợi ích hợp pháp và được thực hiện với mục tiêu hạn chế mức thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra. Vì vậy vấn đế phòng vệ chỉ đặt ra khi cần thiết.
Chú ý: nếu một người có hành vi kích động, khiêu khích một người khác để người đó nảy sinh hành vi xâm hại rồi dựa vào đó để có hành vi chống trả gây thiệt hại cho người bị kích động để trả thù thì không được coi là phòng vệ chính đáng.
2. Điều kiện thứ hai: hành vi xâm hại những lợi ích hợp pháp (của công dân, nhà nước cần được pháp luật bảo vệ) phải đang xảy ra.
Điều kiện thứ hai gắn liền với hành vi xâm hại, thể hiện cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng là hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa trực tiếp gây nguy hại ngay tức khắc cho những lợi ích xã hội cần được bảo vệ.
a. Trường hợp khi hành vi xâm hại chưa bắt đầu, chưa trực tiếp đe dọa lợi ích hợp pháp mà đã thực hiện hành vi phòng vệ thì trường hợp này goi là "phòng vệ sớm" và không được thừa nhận là phòng vệ chính đáng theo quy định tại điều 15 của Bộ Luật hình sự.
b. Trường hợp khi hành vi xâm hại đã kết thúc mới thực hiện hành vi phòng vệ thì trường hợp này khoa học pháp lý hình sự gọi là "phòng vệ muộn" (sự trả thù) và không được thừa nhận là phòng vệ chính đáng.
c. Trường hợp không có hành vi xâm hại mà lầm tưởng là có hành vi xâm hại và thực hiện hành động phòng vệ gây ra thiệt hại cho người không có hành vi xâm hại thì khoa học pháp lý gọi là "phòng vệ tưởng tượng" và không được thừa nhận là phòng vệ chính đáng.
Như vậy, hành động phòng vệ chỉ được thừa nhận là phòng vệ chính đáng khi hành vi xâm hại còn đang xảy ra, đang diễn ra trên thực tế chứ không phải là sự suy đoán tưởng tượng, đã bắt đầu và chưa kết thúc.
3. Điều kiện thứ ba: Hành động chống trả phải nhằm vào chính người đang có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.
Thiệt hại gây ra cho chính người có hành vi xâm hại là điều kiện tiếp theo thể hiện nội dung và tính hợp pháp của phòng vệ chính đáng.
Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người bị xâm hại và chỉ có như vậy mới bảo vệ có hiệu quả các lợi ích hợp pháp.
Những trường hợp hành vi phòng vệ, hành vi chống trả không gây thiệt hại cho chính bản thân người có hành vi xâm hại mà gây thiệt hại cho người khác thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc trách nhiệm pháp lý tương ứng khác.
4. Điều kiện thứ tư: người phòng vệ phải có hành vi chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi xâm hại các lợi ích cần bảo vệ.
Hành vi chống trả mà gây thiệt hại quá đáng, quá mức cần thiết hoặc không cần thiết thì không được thừa nhận là phòng vệ chính đáng, mà là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo quy định tại khoản 2, điều 15 của Bộ Luật hình sự.

Tin liên quan