Thuế thu nhập doanh nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán
Ngày đăng: 17-12-2012
Nghĩa vụ thuế đối với tổ chức phát hành
Theo Luật Chứng khoán, tổ chức phát hành bao gồm các DN là pháp nhân Việt Nam thuộc các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, dịch vụ có đủ điều kiện, được pháp luật cho phép phát hành chứng khoán ra công chúng. Nghĩa vụ thuế đối với tổ chức phát hành được nhận biết trên 2 khía cạnh.
Thứ nhất, với hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ thường xuyên mà DN đang tiến hành, tạo cơ sở kinh tế cho việc niêm yết (như hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, sản xuất cao su, hoạt động ngân hàng…), thì tổ chức phát hành là DN thực hiện nghĩa vụ nộp các loại thuế theo thực tế kinh doanh.
Thứ hai, với hoạt động phát hành chứng khoán, chào bán cổ phiếu: DN thu được tiền, nhưng đây không phải là doanh thu, cũng không phải là thu nhập, mà là số vốn họ huy động được từ các NĐT mua chứng khoán do họ phát hành. Do đó, như một lẽ thường tình, DN không phải trả bất cứ một khoản thuế nào, nhưng DN phải trả khoản phí dịch vụ cho các đối tác cung cấp dịch vụ. Với dịch vụ hành chính, dịch vụ công do cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán (UBCK) thực hiện, thì DN nộp phí, lệ phí theo quy định của Pháp lệnh Phí và lệ phí bao gồm: lệ phí chấp thuận chào bán cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ ra công chúng (thấp nhất 10 triệu đồng, cao nhất 50 triệu đồng tùy quy mô của khối lượng phát hành) và phí quản lý công ty đại chúng (10 triệu đồng/năm).
Nghĩa vụ thuế đối với NĐT chứng khoán là tổ chức
NĐT chứng khoán là tổ chức tham gia thị trường với nghiệp vụ mua/bán để kiếm lời hoặc đầu tư dài hạn thông qua việc mua cổ phiếu của DN niêm yết. Tùy thuộc vào thời gian nắm giữ chứng khoán và mục đích đầu tư, nghĩa vụ thuế được quy định cụ thể như sau:
- Đối với giao dịch mua bán hàng hóa là chứng khoán, DN và NĐT sẽ không phải nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo quy định của Luật Thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 3/6/2008 và các văn bản hướng dẫn.
- Đối với thu nhập do chuyển nhượng chứng khoán, DN sẽ kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 25% theo quy định của Luật Thuế TNDN số 14/2008/QH12 ngày 3/6/2008. Đương nhiên, các lô mua bán có chênh lệch âm (lỗ) được bù trừ kế quả với các lô mua bán chênh lệch dương (lãi).
- Đối với thu nhập là cổ tức từ việc đầu tư vốn để sở hữu, nắm giữ cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, thì NĐT được miễn thuế theo quy định tại Điều 4, Luật Thuế TNDN số 04/2007/QH12. Cổ tức DN nhận được hạch toán vào tài khoản thu nhập, nhưng không phải nộp thuế TNDN.
- Đối với chứng khoán là trái phiếu chính phủ, NĐT có thể được miễn thuế TNDN tùy theo quy định của mỗi đợt phát hành, việc miễn thuế (nếu có) sẽ được công bố ngay trong quyết định hoặc thông báo phát hành.
Nghĩa vụ thuế của người kinh doanh chứng khoán
Thứ nhất, về thuế gián thu. Theo Luật Chứng khoán và các luật, pháp lệnh thuế hiện hành, thì kinh doanh chứng khoán gồm môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư và lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, dịch vụ tổ chức thị trường của các Sở hoặc TTGDCK,các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Dịch vụ tổ chức thị trường của các Sở hoặc TTGDCK bao gồm: chấp thuận niêm yết, quản lý niêm yết, quản lý giao dịch, quản lý thành viên giao dịch, cung cấp thông tin liên quan tới công tác quản lý niêm yết, quản lý giao dịch và các dịch vụ liên quan khác.
Các hoạt động kinh doanh chứng khoán trên thuộc diện điều chỉnh của Luật Thuế GTGT và hiện nay đang được miễn trừ nghĩa vụ nộp thuế GTGT theo quy định tại Thông tư số 06/2012/TT-TBC ngày 11/1/2012 của Bộ Tài chính.
Thứ hai, về thuế trực thu. Như phạm vi của hoạt động kinh doanh chứng khoán nêu trên, thì những người tham gia cung cấp dịch vụ trên TTCK với tư cách là tổ chức, là DN đăng ký theo hoạt động của Luật Doanh nghiệp có nghĩa vụ phải nộp thuế TNDN theo quy định hiện hành.

Tin liên quan